hành vi đe doạ người khác
Như định nghĩa đã nêu ở mục 1, tội đe dọa giết người phải có hành vi dọa giết người khác. Như vậy, nếu hành vi của bạn chỉ dừng lại ở mức độ dọa nạt (dọa đánh, dọa tung tin lên mạng xã hội) thì đó không phải là tội đe dọa giết người do đó không phải chịu các hình phạt được quy định tại điều 133 BLHS 2015 Cơ sở pháp lý: Bộ luật Hình sự 2015
- Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe doạ toàn thể loài người và sự sống trên Trái Đất. Cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém đã cướp đi của thế giới nhiều điều kiện để phát triển, loại trừ nạn đói, nạn thất học và khắc phục nhiều bệnh tật cho hàng trăm triệu con người, nhất là ở các nước chậm phát triển.
Đối tượng đe doạ nhà báo khi tác nghiệp có thể bị xử lý hình sự (Ảnh minh hoạ) Người bị coi là phạm tội là người có hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi này có thể là lời đe dọa với những hình thức khác nhau qua điện thoại, thư
Việc bắt nạt có thể được định nghĩa là hành vi. thống trị của người khác thông qua việc sử dụng vũ lực hoặc đe doạ Chẳng hạn, trong một lớp học, nếu một đứa trẻ liên tục bị đe doạ, cười phá lên, và thậm chí làm tổn thương người khác, điều này có
tội cố ý gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác sử dụng trái phép tài sản tội làm giả con dấu của cơ quan, tổ chức trốn xét xử tội che dấu tội phạm tội sửa chữa giấy chứng nhận và tài liệu của cơ quan, tổ chức đua xe trái phép huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (cùng đồng bọ n chặn xe ôtô lấy tiền và đập phá xe) lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt …
gambar orang membuang sampah pada tempatnya kartun. Tôi muốn hỏi trường hợp cầm dao đe dọa giết người có bị truy tố trách nhiệm hình sự không? Nếu có thì mức xử phạt được quy định như thế nào? Cụ thể sự việc như sau Cha tôi và em trai tôi đang dọn dẹp làm việc trong nhà thì có ông kia cầm dao vào nhà tôi chửi bới, đe dọa và miệng đòi chém giết cha tôi. Trong lúc ông kia cầm dao lao qua cổng tiến đến gần sân nhà tôi thì cha tôi hoảng loạn liền cúi xuống lấy đất đá thanh gỗ ném về phía ông kia. Rồi ông kia cũng sợ đi thụt lùi để về thì vấp ngã văng cây dao ra. Sau đó ông ta vẫn đứng dậy cầm lấy cây dao ra về. Nhưng ông ta kêu bị gãy tay rồi làm giám định sức khỏe và kiện cha tôi đánh ông gãy tay. Cha tôi là bệnh nhân tâm thần, vậy thì có bị xử lý vi phạm gì không? Hành vi đe dọa giết người được hiểu như thế nào? Hành vi đe dọa giết người sẽ bị xử phạt như thế nào? Người mắc bệnh tâm thần có bị xử lý vi phạm về hành vi gây thương tích cho người khác không? Hành vi đe dọa giết người được hiểu như thế nào?Giết người được xem là hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, xuất phát từ nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi giết người, nhưng dù với bất kỳ lý do nào thì hành vi giết người đều sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trong đó hành vi đe dọa giết người cũng được xem là hành vi vi phạm pháp dọa giết người là hành vi mà người phạm tội sử dụng những hành vi, lời nói, hành động để khiến làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Hành vi này khiến cho người bị đe dọa sẽ tin rằng mình sẽ bị giết vào thời gian đó. Đe dọa giết người là một trong những tội danh xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và danh dự của người khác được pháp luật bảo dao đe dọa giết người Hành vi đe dọa giết người sẽ bị xử phạt như thế nào?Trong trường hợp này thì để xác định đúng và rõ các hành vi vi phạm và mức phạt thì cần có nhiều yếu tố liên quan như hoàn cảnh, hành vi, hậu quả cũng như lỗi của các bên. Việc xác định này dựa vào cơ quan điều tra. Do đó, nếu vụ việc được đưa ra Tòa án thì cơ quan điều tra sẽ tiến hành thu thập chứng cứ cũng như thông tin, bằng chứng mà hai bên cung cấp để Tòa án đưa ra quyết định cuối quy định chung thì đối với hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm nhân phẩm của người khác của ông kia có thể bị xử phạt hành chính theo điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, cụ thể quy định"Điều 7. Vi phạm quy định về trật tự công cộng...3. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Có hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 21 và Điều 54 Nghị định này;..."Theo quy định trên nếu người này có những lời lẽ xúc phạm tới danh dự, nhân phẩm của cha bạn thì sẽ bị xử phạt hành chính từ đồng đến hành vi đe dọa giết bố bạn thì tùy theo tình hình cũng như kết luận của cơ quan điều tra mà có ông kia có thể bị quy vào hành vi đe dọa giết người và bị xử theo Điều 133 Bộ Luật Hình sự 2015"Điều 133. Tội đe dọa giết người1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năma Đối với 02 người trở lên;b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;d Đối với người dưới 16 tuổi;đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác."Người mắc bệnh tâm thần có bị xử lý vi phạm về hành vi gây thương tích cho người khác không?Đối với bố bạn thì cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác định mức độ tâm thần, vì theo quy định tại Điều 21 Bộ Luật Hình sự 2015 thì khi người mắc bệnh tâm thần sẽ không chịu trách nhiệm hình sự"Điều 21. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sựNgười thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự."Đối với trách nhiệm dân sự thì nếu xác định lỗi trong tình huống gây gãy tay do bố bạn gây ra thì bố bạn vẫn chịu trách nhiệm dân sự, vì nếu bị mất năng lực hành vi vi dân sự thì sẽ do người giám hộ bồi thường theo quy định tại khoản 3 Điều 586 Bộ Luật Dân sự 2015 như sau"Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân...3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường."
Hăm dọa là gì?Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội?Làm gì khi bị hăm dọa?Thực tế hiện nay có nhiều người không may bị kẻ khác có hành vi hăm dọa, làm ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và cuộc sống. Do đó mà câu hỏi được đặt ra là Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội?Chúng tôi sẽ giúp quý bạn đọc giải đáp vấn đề này thông qua bài viết Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội?Hăm dọa là gì?Hăm họa hay còn được dùng với từ phổ biến hơn là đe dọa. Đe dọa là Hành vi uy hiếp tinh thần người khác qua việc thông báo trước bằng những cách khác nhau sẽ làm hoặc không làm việc bất lợi cho họ hoặc cho người thân thích của họ nếu không thỏa mãn các đòi hỏi nhất thực hiện hành vi đe dọa thường dùng các cách thức khác nhau. Có thể là dùng vũ lực, đe dọa tố giác, đe dọa hủy hoại tài sản… Hình thức đe dọa có thể trực tiếp, qua thư, qua điện thoại… Các đòi hỏi của kẻ đe dọa có thể là đòi giao tài sản, đòi cho được giao cấu…Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội?Hành vi đe dọa có phạm tội không là một câu hỏi khá rộng, chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này như sau– Hành vi hăm dọa người khác có thể bị xử phạt hành chínhHành vi hăm dọa người khác được biểu hiện bằng các hành vi có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà chưa có những dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành cứ điểm a khoản 1 điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình“ 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”– Hành vi hăm dọa người khác có thể bị xử lý hình sựCăn cứ điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017“ 1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.”Hành vi hăm dọa người khác có phải là phạm tội không cần căn cứ vào các cấu thành tội phạm của hành vi, bao gồm khách thể của tội phạm, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể thực quy định tại điều 133 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 “ 1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năma Đối với 02 người trở lên;b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;d Đối với người dưới 16 tuổi;đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.”Các yếu tố cấu thành tội đe dọa giết người+ Khách thể Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công dân.+ Mặt chủ quan Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi đe dọa. Trạng thái tâm lý, xử sự của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa. Số lần đe dọa và khả năng thực hiện các hành vi đó của người đe dọa.+ Mặt khách quan Có hành vi làm cho người bị đe dọa biết được khả năng tính mạng của họ sẽ bị xâm phạm+ Chủ thể Chủ thể của tội đe dọa giết người là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình gì khi bị hăm dọa?Khi không may bị hăm dọa, làm ảnh hưởng đến tinh thần và cuộc sống của mình bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an có thẩm quyền hoặc có thể khởi kiện dân sự vì người đó có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, tinh thần của bạn. Cùng với đó bạn yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi hăm dọa này gây ra đối với ý rằng, khi thực hiện việc tố cáo hoặc khởi kiện người có hành vi hăm dọa mình bạn cần có đầy đủ chứng cứ chứng minh các hành vi bị đe dọa, những tổn thất mà bạn phải gánh đây là nội dung bài viết về Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội? Chúng tôi hi vọng sẽ cung cấp những thông tin bổ ích đến bạn đọc. Chúng tôi sẽ gửi đến bạn đọc những thông tin bổ ích khác trong các bài viết tiếp theo.
Xử lý hành vi dùng dao đe dọa người khác để cưỡng đoạt tài sản như thế nào? Mấy ngày trước, kế bên nhà tôi có một người xông vào nhà gây rối, làm mọi người hoảng loạn, người này có cầm dao đe dọa người vợ để lấy tiền với số tiền khá lớn là 60 triệu. Sau khi đạt được mục đích thì người này đã bỏ chạy và công an đã tóm kịp. Tôi thấy vụ việc này khá nghiêm trọng, tôi muốn hỏi hướng xử lý trường hợp này như thế nào? Anh Toàn đến từ Quảng Ngãi hỏi Xử phạt hành chính với hành vi dùng dao đe dọa người khác như thế nào? Hành vi dùng dao đe dọa người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra sao? Xử lý hành vi dùng dao đe dọa người khác để cưỡng đoạt tài sản như thế nào? Xử phạt hành chính với hành vi dùng dao đe dọa người khác như thế nào?Mức xử phạt hành chính đối với hành vi dùng dao đe dọa người khác áp dụng theo điểm b khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CPVi phạm quy định về trật tự công cộng...5. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;b Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương;c Quay phim, chụp ảnh, vẽ sơ đồ địa điểm cấm, khu vực cấm liên quan đến quốc phòng, an ninh;d Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;đ Sàm sỡ, quấy rối tình dục;e Khiêu dâm, kích dục ở nơi công cộng;g Thực hiện thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ có chủng loại hoặc chất lượng không phù hợp với loại sản phẩm đã đăng ký theo giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp;h Sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ phóng, bắn, thả từ trên không các loại vật, chất gây hại hoặc chứa đựng nguy cơ gây hại khi không được đó, cá nhân có hành vi dùng dao đe dọa người khác đồng nghĩa với hành vi gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương nên sẽ bị phạt tiền từ đồng đến đối với tổ chức vi phạm cùng hành vi trên thì sẽ chịu phạt tiền gấp đôi, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này. Ngoài ra, còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đó là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm theo điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định 144/2021/ phạt hành chính với hành vi dùng dao đe dọa người khác như thế nào? Hình từ InternetHành vi dùng dao đe dọa người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra sao?Nếu hành vi này là hành vi đe dọa giết người thì có thể xử lý hình sự theo Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015 cụ thể như sauTội đe dọa giết người1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năma Đối với 02 người trở lên;b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;d Đối với người dưới 16 tuổi;đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm vậy, đối với người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với các trường hợp có tình tiết tăng nặng thì mức phạt từ có thể lên tới 07 năm lý hành vi dùng dao đe dọa người khác để cưỡng đoạt tài sản như thế nào?Theo khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về tội cưỡng đoạt tài sản cụ thể như sauTội cưỡng đoạt tài sản1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năma Có tổ chức;b Có tính chất chuyên nghiệp;c Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;d Chiếm đoạt tài sản trị giá từ đồng đến dưới đồng;đ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;e Tái phạm nguy Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năma Chiếm đoạt tài sản trị giá từ đồng đến dưới đồng;b Lợi dụng thiên tai, dịch Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năma Chiếm đoạt tài sản trị giá đồng trở lên;b Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài quy định nêu trên thì nếu hành vi dùng dao đe dọa người khác để yêu cầu đưa tài sản thì có thể xử lý hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản. Cụ thể người này đã có hành vi chiếm đoạt số tiền là 60 triệu, thuộc trong trường hợp tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 nên sẽ chịu mức phạt từ từ 03 năm đến 10 năm.
Mức xử phạt đối với hành vi nhắn tin đe dọa người khác Nhắn tin đe dọa thông thường, nhắn tin đe dọa giết người? Làm gì khi bị người khác nhắn tin đe dọa?Hiện nay, xã hội phát triển nhanh chóng, những mâu thuẫn nảy sinh ngày càng nhiều dẫn đến các hành vi đe dọa gây ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của các chủ thể bị đe dọa. Hành vi đe dọa người khác bằng lời nói hoặc hành động đều là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo các quy định cụ thể tuy nhiên mức xử lý từng hành vi được quy định khác nhau dựa trên những hành động, hành vi cụ thể của đối tượng đe dọa. Vậy, hành vi đe dọa người khác được quy định cụ thể như thế nào và có nội dung ra sao? Luật sư tư vấn luật qua điện thoại trực tuyến miễn phí Hiện nay, mức xử phạt đối với hành vi nhắn tin đe dọa người khác được chia làm hai trường hợp cụ thể. Tuỳ vào tính chất cũng như mức độ của hành vi và nội dung tin nhắn mà mức xử phạt cũng được pháp luật quy định cũng khác nhau. Trường hợp 1 Nhắn tin đe dọa giết người. Đe dọa tính mạng người khác là hành vi vi phạm pháp luật của một người bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác làm cho người khác lo sợ rằng mình có khả năng bị giết. Việc đe dọa giết người sẽ được thực hiện nhằm mục đích khống chế ý chí của người bị đe dọa và làm cho người khác tin rằng tính mạng của mình đang bị đe dọa. Theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi đe doa tính mạng người khác là hành vi vi phạm pháp luật được quy định tại Điều 133 về tội đe dọa giết người “1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm a Đối với 02 người trở lên; b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; d Đối với người dưới 16 tuổi; đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.” Như vậy, hành vi đe dọa giết người được coi là tội phạm ít nghiêm trọng. Khung hình phạt cơ bản của tội phạm này có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm và được áp dụng cho các trường hợp tội không có tình tiết định khung tăng nặng. Khung tăng nặng có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015 cụ thể là Đối với 2 người trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; Đối với người dưới 16 tuổi; Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác. Chủ thể của tội đe dọa giết người theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 là các cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi được pháp luật quy định đối với tội đe dọa giết người, cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi vi phạm. Khách thể của tội đe dọa giết người là tính mạng, quyền sống của con người. Mặc dù người phạm tội không có mục đích giết người khi thực hiện hành vi đe dọa, nhưng việc làm cho người bị đe dọa lo sợ và tin rằng mình sẽ bị giết cũng được xem là xâm phạm đến quyền sống của người đó. Hành vi khách quan của tội đe dọa giết người là hành vi làm cho người bị đe dọa lo sợ bằng các cách thức, phương tiện, thủ đoạn khác nhau như lời nói, hành động, ánh mắt,… Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi đe dọa là làm cho người bị đe dọa tin và lo sợ rằng mình có thể bị giết chứ không phải để thực hiện việc giết người. Hành vi đe dọa của người phạm tội phải làm cho người bị đe dọa tin rằng hành vi đe dọa đó sẽ được thực hiện nếu như người bị đe dọa không làm theo ý của người phạm tội. Đây là dấu hiệu đặc trưng của loại tội này. Tin nhắn được coi là tin nhắn đe dọa giết người khi nội dung thể hiện việc sẽ tước đoạt tính mạng của người nhận tin hoặc người thân thích của họ. Nội dung tin nhắn có thể không đề cập đến cách thức sẽ giết người như thế nào hoặc được mô tả cụ thể là sẽ gây tai nạn giao thông, bắn, đâm,… và cần có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Tội đe dọa giết người được thực hiện do cố ý, người thực hiện hành vi phạm tội biết hành vi đe dọa giết người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi đó, đồng thời mong muốn người bị đe dọa sẽ lo sợ và tin rằng mình có thể sẽ bị giết. Chính bởi vì thể mà tội đe dọa giết người sẽ được thực hiện do cố ý trực tiếp. Đặc biệt, khi nhắn tin đe dọa giết người khi có thêm các yếu tố sau đây Giết hai người trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; Đối với người dưới 16 tuổi; Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác, thì bị phạt tù từ 02 – 07 năm. Trường hợp 2 Nhắn tin đe dọa thông thường. Nếu việc nhắn tin không mang tính đe dọa giết người mà chỉ là những lời đe dọa thông thường nhằm ép buộc người nhận tin nhắn phải thực hiện các yêu cầu của mình thì hành vi này không vi phạm quy định của Bộ luật Hình sự 2015 mà bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo quy định của pháp luật, trong lời đe dọa phải chứa đựng lời dọa giết người. Chính bởi vì thế, nếu người có hành vi đe dọa nhưng không dọa giết người thì sẽ không phạm vào tội đe dọa giết người. Đối với hành vi nhắn tin đe dọa nhưng không dọa giết người, khiến người nhận được tin nhắn sợ hãi, bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, hành vi được điều chỉnh bởi Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện, cụ thể là tại điểm g Khoản 3. Theo đó, người nào có hành vi “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác” thì có thể bị phạt tiền từ đồng đến đồng. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền xử phạt là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Trưởng phòng công an cấp huyện được quy định cụ thể tại Điều 96, 97 Nghị định 174/2013/NĐ-CP. Như vậy, nếu các chủ thể bị người khác nhắn tin đe dọa, các chủ thể đó có thể báo ngay với Cơ quan công an cấp huyện hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện để tiến hành điều tra và xử phạt. 2. Làm gì khi bị người khác nhắn tin đe dọa? Trong trường hợp bị nhắn tin đe dọa, để bảo đảm sự an toàn cho chính mình và người thân; công dân có thể tố cáo hành vi của người gửi tin nhắn đến cơ quan điều tra công an quận/huyện theo quy định tại Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. “Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền” Căn cứ vào tin báo, tố giác tội phạm của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ. Theo đó, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với người có hành vi vi phạm. Nếu hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan điều tra công an quận/huyện có thể ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 4 Điều 97 Nghị định 174/2013/NĐ-CP Thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân được quy định cụ thể tại Điều 97 Nghị định 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ với nội dung như sau “4. Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Trưởng phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh văn hóa, tư tưởng, Trưởng phòng An ninh thông tin có quyền a Phạt cảnh cáo; b Phạt tiền không vượt quá đồng; đối với lĩnh vực bưu chính mức phạt tiền không vượt quá đồng; c Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; d Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản này; đ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và k Khoản 1 Điều 28 của Luật xử lý vi phạm hành chính.” Như vậy, để có hướng xử lý đúng đắn và kịp thời, các chủ thể cần phải xem xét hành vi thu thập các thông tin về thân nhân của nạn nhân cũng như hành vi đe dọa của người đe dọa đối với nạn nhân nhằm mục đích gì thì mới xác định được cụ thể trường hợp này có cấu thành tội phạm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự hay không? Theo quy định, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố và trong thời hạn 20 ngày, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự;… Đối với trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Nếu hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra công an quận/huyện có thể ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 4 Điều 97 Nghị định 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Người nhận tin nhắn đe dọa sẽ cần phải cung cấp cho Cơ quan điều tra các tin nhắn đe dọa, và các chứng cứ liên quan khác để Cơ quan điều tra có thêm thông tin khi giải quyết vụ việc.
1. Quy định xử phạt cho hành vi đe doạ người khác bằng tin Xử phạt hành Xử lý hình Tội đe doạ giết người Tội 133 Bộ luật Hình sự 2015,sửa đổi 2017 Tội cưỡng dâm Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 Tội cưỡng đoạt tài sản Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 20172. Bị người khác nhắn tin đe doạ thì nên làm gì?Hành vi đe doạ nói chung và đặc biệt là đe doạ người khác bằng tin nhắn nói riêng là tình trạng xảy ra rộng rãi nhất ở xã hội hiện nay bởi dĩ đó là hành vi dễ thực hiện khi mà mạng xã hội và công nghệ thông tin ngày một phát triển và yếu tố khách quan của hành vi có thể không đủ để các đối tượng nhận thức được tính nghiêm trọng của nó. Vậy hành vi đe doạ người khác bằng tin nhắn phải chịu chế tài từ pháp luật như thế nào?1. Quy định xử phạt cho hành vi đe doạ người khác bằng tin nhắnTuỳ vào mức độ nghiêm trọng và mục đích cho hành vi mà pháp luật dựa vào những yếu tố đó để đưa ra các biện pháp chế tài phù Xử phạt hành chínhTuỳ vào mục đích của hành vi đe doạ người khác bằng tin nhắn mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính, cụ thểPhạt tiền từ đồng đến đồng cho hành vi nhắn tin cho người khác với mục đích đe doạ, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác theo điểm g khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP;Phạt tiền từ đồng đến đồng cho hành vi nhắn tin cho người khác với mục đích đe doạ nhằm chiếm đoạt tài sản mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/ doạ người khác bằng tin Xử lý hình sựTrong trường hợp hành vi có tính chất nghiêm trọng, việc đe doạ người khác bằng tin nhắn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể Tội đe doạ giết người Tội 133 Bộ luật Hình sự 2015,sửa đổi 2017Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu người phạm tội có hành vi nhắn tin mà nội dung thể hiện sự đe doạ giết người và có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017; Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu thực hiện tội danh này có các dấu hiệu tăng nặng tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi Tội cưỡng dâm Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu có hành vi dùng mọi thủ đoạn bao gồm hành vi nhắn tin đe doạ khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác;Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm cho hành vi phạm tội này thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017;Phạt tù từ 10 năm đến 18 năm nếu phạm tội danh này thuộc một trong các trường hợp tại khoản 3 Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017;Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu phạm tội này với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; phạm tội thuộc các trường hợp tại khoản 2, khoản 3 điều này thì bị xử phạt theo mức hình phạt tại các quy định tại các khoản phạt bổ sung Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 Tội cưỡng đoạt tài sản Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu có hành vi nhắn tin đe doạ uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản;Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm nếu thực hiện hành vi phạm tội này thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều này;Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu thực hiện hành vi phạm tội này thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều này;Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm nếu thực hiện hành vi phạm tội này thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều phạt bổ sung Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài Bị người khác nhắn tin đe doạ thì nên làm gì?Trong trường hợp nhận được tin nhắn đe doạ, để đảm bảo sự an toàn cho bản thân và thường thân của mình; bạn có thể tố cáo hành vi của người gửi tin nhắn đe doạ đến cơ quan điều tra cấp hoặc huyện theo khoản 1 Điều 7 Thông tư 28/2020/TT-BCA.
hành vi đe doạ người khác