hợp đồng hứa thưởng

Vụ tranh chấp hợp đồng hứa thưởng đò i c ăn nhà 446-448 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, quận 3 giữa luật gia Đặng Đình Thịnh với mẹ con b à Vương Thị Khanh (Việt kiều Mỹ), ông Nguyễn Đắc Quang và các tranh chấp khác. Do hai bị đơn đều đã chết nên HĐ XX tri ệu tập các người thừa kế quyền và nghĩa vụ Sắp khởi tranh giải golf FLC Group Autumn Golf Tournament với giải thưởng HIO hàng chục tỷ đồng. Mừng kỷ niệm 21 năm thành lập (25/10/2001 - 25/10/2022), FLC tổ chức giải đấu FLC Group Autumn Golf Tournament, một hoạt động đặc biệt nằm trong chuỗi sự kiện có chủ đề "21 năm Tỉ phú Abramovich hứa thưởng huấn luyện viên Tuchel hợp đồng mới ngay sau chức vô địch Champions League. Ảnh: AFP Màn thể hiện quá đỗi ấn tượng khiến Chủ tịch Roman Abramovich hứa tưởng thưởng Tuchel một bản hợp đồng mới, ngay trên sân Estadio do Dragao khi trận chung kết Champions League vừa kết thúc. Khi thân chủ là Việt kiều Mỹ về nước đi đòi nhà, được luật gia Đặng Đình Thịnh nhận thực hiện hợp đồng hứa thưởng, giúp kiện ra tòa. Từ xét xử sơ thẩm (TAND TPHCM), đến phúc thẩm (TAND Cấp cao tại TPHCM), rồi giám đốc thẩm hủy cả 2 bản án; đến lần này, TAND TPHCM xét xử sơ thẩm lần 2. Vụ kiện kéo dài hơn chục năm 03/09/2015. Cuối tháng 8, ông Hoàng Mạnh Hà, Phó Giám đốc FSU1 của FPT Softwarre, cùng một số lãnh đạo đơn vị đã sang Na Uy, Đan Mạch và Phần Lan để tìm hiểu thị trường và ký hợp đồng khung dịch vụ (MSA - Master Services Agreement) với AutoMagi về tăng cường hợp tác trong gambar orang membuang sampah pada tempatnya kartun. 2 trang Chia sẻ tienhuytran22 Ngày 13/06/2022 Lượt xem 350 Lượt tải 1 Bạn đang xem nội dung tài liệu Mẫu Hợp đồng hứa thưởng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc ———–o0o————- HỢP ĐỒNG HỨA THƯỞNG Hôm nay, . tại .., Chúng tôi gồm có BÊN TRẢ THƯỞNG CÔNG TY. Mã số thuế.. Địa chỉ Đại diện . Chức vụ Sau đây gọi tắt là bên A BÊN NHẬN THƯỞNG CÔNG TY. Mã số thuế.. Địa chỉ Đại diện . Chức vụ. Sau đây gọi tắt là bên B Sau khi đã bàn bạc một cách kỹ lưỡng hai bên đều nhất trí đi đến thống nhất với các điều khoản trong Hợp đồng trích thưởng sau Điều 1 Lý do hứa thưởng . . Điều 2 Điều kiện trả thưởng và hình thức trả thưởng Điều kiện trả thưởng . . Hình thức trả thưởng Số tiền trả thưởng là % giá trị hợp đồng đối tác do Bên B tìm kiếm ký kết Hợp đồng trích thưởng với Bên A Trả thưởng bằng tiền mặt Việt Nam đồng Bên A sẽ trả thưởng cho Bên B sau khi thỏa mãn như điều kiện trên Điều Điều 3 Cam kết của hai bên Cam kết của bên A Thực hiện đúng và đầy đủ nội dung trong hợp đồng. Trả thưởng cho Bên B đúng và đủ số tiền ở điều 2 Việc trả thưởng là do Bên A tự nguyện. Cam kết của bên B Thực hiện đúng và đầy đủ nội dung trong hợp đồng. Điều 4 Ký kết Hai bên đã đọc lại nguyên văn bản Hợp đồng trích thưởng này, cùng nhất trí ký vào để làm bằng chứng, hợp đồng được lập thành 02 bản chính, mỗi bản gồm 03 trang, mỗi bên giữ 01 bản đều và đều có giá trị pháp lý như nhau. ĐẠI DIỆN BÊN TRẢ THƯỞNG ĐẠI DIỆN BÊN ĐƯỢC TRẢ THƯỞNG Quy định hứa thưởng là cam kết của một bên sẽ thực hiện nghĩa vụ trả thưởng nếu một bên khác đã thực hiện được những điều kiện do bên hứa thưởng đưa ra... Câu hỏi của bạn Chào Luật sư, dạo gần đây tôi đọc Bộ Luật dân sự 2015 và có thắc mắc như sau Hứa thưởng có phải một loại hợp đồng không và hiện nay pháp luật có quy định như thế nào về hứa thưởng? Cảm ơn Luật sư! Câu trả lời của Luật sư Chào bạn, Luật Toàn Quốc cảm ơn bạn đã tin tưởng và đặt câu hỏi về quy định hứa thưởng, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn về quy định hứa thưởng như sau Căn cứ pháp lý BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 1. Hứa thưởng là gì? Giao dịch dân sự là hành vi pháp lí đa phương hoặc đơn phương của chủ thể nhằm đạt tới một hậu quả pháp lí nhất định. Hứa thưởng là hành vi pháp lí đơn phương của một bên chủ thể đưa ra những điều kiện nhất định, điều kiện nay phải cụ thể, rõ ràng, không bị pháp luật cấm và không trái đạo đức xã hội. Đối tượng của việc hứa thưởng là một công việc như tìm kiếm một tài sản, hoàn thành một công việc nào đó… Khi chủ thể thứ hai đã thực hiện được công việc mà người hứa thưởng nêu ra, họ có quyền yêu cầu người hứa thưởng phải trả thưởng như đã tuyên bố. Việc trả thưởng phải được tuyên bố cụ thể như một số tiền, một số đồ vật hoặc người hứa thưởng phải làm cho bên kia một công việc nào đó. Vậy, hứa thưởng là cam kết của một bên sẽ thực hiện nghĩa vụ trả thưởng nếu một bên khác đã thực hiện được những điều kiện do bên hứa thưởng đưa ra. Những điều kiện này không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 quy định tại Điều 570 Điều 570. Hứa thưởng 1. Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng. 2. Công việc được hứa thưởng phải cụ thể, có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. 2. Nội dung quy định hứa thưởng Nội dung quy định hứa thưởng bao gồm bên hứa thưởng và bên trả thưởng Bên hứa thưởng Là cá nhân hoặc pháp nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có nghĩa vụ phải tiếp nhận kết quả công việc mà người khác đã thực hiện xong, đúng với các điều kiện mà bên hứa thưởng đưa ra Bên hứa thưởng có quyền rút lại tuyên bố hứa thưởng nếu chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công hợp này bên hứa thưởng phải tuyên bố về thời hạn bắt đầu thực hiện công việc. Nếu tuyên bố hứa thưởng không quy định về thời gian bắt đầu thực hiện công việc thì tuyên bố đó có hiệu lực kể từ ngày công khai. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và trên phương tiện mà việc hứa thưởng đã công bố Điều 571. Rút lại tuyên bố hứa thưởng Khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc thì người hứa thưởng có quyền rút lại tuyên bố hứa thưởng của mình. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và trên phương tiện mà việc hứa thưởng đã được công bố. Bên hứa thưởng có thể tuyên bố về thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc công việc. Trong khoảng thời gian đó, bên hứa thưởng phải thực hiện cam kết của mình nếu người khác đã thực hiện xong những điều kiện hứa thưởng. Hết thời gian đó, bên hứa thưởng không buộc phải trả thương cho người đã thực hiện công việc đúng hạn Bên trả thưởng Là người đã hoàn thành công việc mà bên hứa thưởng tuyên bố. Sau khi thực hiện xong công việc phải bàn giao lại cho bên hứa thưởng và nhận phần thưởng của bên trả thưởng. – Nếu một người thực hiện công việc hứa thưởng thì người đó có quyền nhận thưởng – Nhiều người thực hiện công việc nhưng hành vi của họ hoàn toàn độc lập với nhau, người nào thực hiện xong trước, người đó được nhận thưởng. Nếu họ cùng hoàn thành công việc vào cùng một thời điểm thì phần thưởng được chia đều cho tất cả mọi người. Trường hợp này họ thực hiện một loại công việc giống nhau, thời gian giao kết quả công việc trùng nhau và có một phần thưởng duy nhất. Cũng có thể cùng một loại công việc nhưng có nhiều phần thưởng, người nào hoàn thành công việc đó đúng thời hạn sẽ được nhận một phần thưởng riêng. Điều này phụ thuộc vào việc tuyên bố trả thưởng. – Nhiều người cùng công tác để thực hiện công việc do người hứa thưởng yêu cầu, họ sẽ được nhận chung phần thưởng, phần của mỗi người phụ thuộc và công sức đóng góp của họ Theo nội dung tại Điều 572 Bộ luật dân sự 2015 về trả thưởng như sau Điều 572. Trả thưởng 1. Trường hợp một công việc được hứa thưởng do một người thực hiện thì khi công việc hoàn thành, người thực hiện công việc đó được nhận thưởng. 2. Khi một công việc được hứa thưởng do nhiều người cùng thực hiện nhưng mỗi người thực hiện độc lập với nhau thì người hoàn thành đầu tiên được nhận thưởng. 3. Trường hợp nhiều người cùng hoàn thành công việc được hứa thưởng vào cùng một thời điểm thì phần thưởng được chia đều cho những người đó. 4. Trường hợp nhiều người cùng cộng tác để thực hiện công việc được hứa thưởng do người hứa thưởng yêu cầu thì mỗi người được nhận một phần của phần thưởng tương ứng với phần đóng góp của mình. 3. Hứa thưởng có phải hợp đồng không? Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015 xác định “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Từ quy định này ta thấy giao dịch dân sự được xác định là kết quả của việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Trong giao dịch dân sự ý chí và sự thể hiện ý chí của chủ thể tham gia giao dịch là vô cùng quan trọng. Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân họ. Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự, trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình hoặc bên còn lại trong quan hệ. Tuy nhiên, bên kia có thể tham gia hoặc không tham gia giao dịch. Điều này thể hiện rõ tại khoản 1 Điều 570 và khoản 2 điều 573 Bộ luật Dân sự 2015. Hứa thưởng không ấn định và cũng không giới hạn về chủ thể tham gia, thường là chỉ đưa ra một số tiêu chuẩn hay điều kiện nhất định. Xét về mặt chủ thể sẽ có điểm khác biệt căn bản so với quan hệ hợp đồng, chủ thể tham gia giao kết hợp đồng phải đảm bảo một số điều kiện nhất định về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đồng thời phải được xác định cụ thể trong hợp đồng. Trong khi đó, đối tượng tham gia vào quan hệ hứa thưởng lại không bị giới hạn bởi các điều kiện này. Tham gia vào việc hứa thưởng các bên hoàn toàn không bị rằng buộc bởi một sự cam kết hay thỏa thuận nào. Mặt khác, theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 về khái niệm hợp đồng thì, hợp đồng dân sự, phải là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy, từ những phân tích trên có thể thấy, hứa thưởng là hành vi pháp lý đơn phương không ràng buộc bởi quan hệ hợp đồng. 4. Tình huống tham khảo A đăng lên trang cá nhân mạng face book với nội dung từ ngày 20/03/2017 đến ngày 28/03/2017 nếu ai tìm được con mèo bị mất tích của A thì A sẽ trả thưởng là 1000 đô la USD, và cho biết thông tin về con mèo này. Ngay sau đó B đã liên lạc với A để thỏa thuận về việc hứa thưởng này. Ngày 24/03 B chủ động liên lại với A nói đã tìm được mèo cho A . Khi A nhận đến nhận mèo của mình thì nhìn thấy B đã đá nó 1 cái và A nói rằng vì hành động trên của B nên A chỉ trả thưởng cho ½ số tiền treo thưởng ban đầu là 500 USD. Nếu B không chấp nhận mức trả thưởng trên yêu cầu A trả 100% tiền treo thưởng như đã hứa, hỏi B có đòi lại được số tiền là 500 USD còn lại không? Các tin nhắn nói chuyện giữa A và B và dòng tin đăng trên trang cá nhân của A đều được B chụp lại. Kính mong Luật sư tư vấn giúp tôi! Trả lời A đã công bố treo thưởng trên trang cá nhân mạng xã hội Facebook 1000 USD nếu ai tìm được con mèo của A và B đã tìm thấy con mèo của A. Điều này có nghĩa là B đã hoàn thành yêu cầu của A đúng thời hạn nên A phải có trách nhiệm trả thưởng cho B theo như công bố theo Khoản 1, Điều 570 Bộ luật Dân sự 2015 ” Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện” Kết luận Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể thấy hứa thưởng không phải là một loại hợp đồng. Để hiểu rõ thêm về vấn đề này, bạn có thể tham khảo các dịch vụ dưới đây của luật Toàn Quốc Dịch vụ hỗ trợ khách hàng về quy định hứa thưởng Tư vấn qua Tổng đài 19006500 Đây là hình thức tư vấn được nhiều khách hàng sử dụng nhất, vì bạn có thể đặt thêm các câu hỏi về quy định hứa thưởng ví dụ như thời điểm có hiệu lực, quyền và nghĩa vụ các bên, trình tự, thủ tục hoặc các vấn đề khác liên quan đến hứa thưởng. Chỉ sau một vài câu hỏi của Luật Sư, vấn đề của bạn sẽ được giải quyết; bạn có thể gọi cho Luật Toàn Quốc vào bất cứ thời gian nào chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn cho bạn. Tư vấn qua Email Bạn có thể gửi Email câu hỏi về địa chỉ lienhe chúng tôi sẽ biên tập và trả lời qua Email cho bạn. Tuy nhiên việc trả lời qua Email sẽ mất nhiều thời gian và không thể diễn tả được hết ý của câu hỏi vì vậy bạn nên gọi cho Luật Toàn Quốc để được tư vấn tốt nhất. Tư vấn trực tiếp Nếu bạn sắp xếp được công việc và thời gian bạn có thể đến trực tiếp Công ty Luật Toàn Quốc để được tư vấn. Lưu ý trước khi đến bạn nên gửi câu hỏi về quy định hứa thưởng, tài liệu kèm theo và gọi điện đặt lịch hẹn tư vấn trước để Luật Toàn Quốc sắp xếp Luật Sư tư vấn cho bạn, khi đi bạn nhớ mang theo hồ sơ. Dịch vụ thực tế Luật Toàn Quốc cung cấp dịch vụ pháp lý về quy định hứa thưởng như soạn thảo hồ sơ ủy quyền, thay mặt khách hàng thực hiện các thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ, … Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn ! Chuyên viên Nguyễn Phương LSVN - Bộ luật Dân sự BLDS năm 2005 cũng như năm 2015 quy định về chế định hứa thưởng là một hành vi pháp lý đơn phương. Tuy vậy, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, có nhiều vụ việc hứa thưởng phát sinh nhưng không phải là hành vi pháp lý đơn phương mà là một dạng hợp đồng. Việc phân biệt hứa thưởng là hành vi pháp lý đơn phương hay hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án. Qua nghiên cứu, bình luận vụ án về tranh chấp hợp đồng hứa thưởng mà do ông Đặng Đình T. khởi kiện bà Vương Thị K., ông Nguyễn Đắc Q. do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bản án sau đó bị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy, giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sở thẩm lại. Chúng tôi đưa ra một số ý kiến bình luận về vụ án, chế định hứa thưởng, hợp đồng hứa thưởng cũng như một số vấn đề cần rút kinh nghiệm khi giải quyết các vụ án này. Ảnh minh hoạ. Tóm tắt nội dung vụ án Nhà và đất tại số 446-448 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà Vương Thị K., ông Nguyễn Đắc K. Do gia đình ông K. ra nước ngoài định cư nên căn nhà này được Nhà nước quản lý theo diện nhà vắng chủ. Sau khi ông K. qua đời, năm 2006 bà Vương Thị K. và con trai là ông Nguyễn Đắc Q. bà K. và ông K. có 9 người con nhờ Luật gia Đặng Đình T. tiến hành các thủ tục đòi lại nhà đất nêu trên. Ngày 03/01/2007 bà K., ông Q. và ông T. đã lập Hợp đồng hứa thưởng với nội dung trả thưởng cho ông T. 15% trên tổng giá trị nhà đất mà gia đình bà K. được Nhà nước giao trả khi ông T. đòi được nhà đất nêu trên. Ngày 22/01/2008 và 02/7/2008 bà K., ông Q. và ông T. tiếp tục ký kết phụ lục hợp đồng và bản cam kết với nội dung tăng phần thưởng và thù lao cho ông T. lên 25% và 30%. Ngày 28/11/2011 bà K., ông Q. và ông T. lại ký bản thỏa thuận hứa thưởng với nội dung cam kết trả thưởng cho ông T. 35% giá trị nhà đất đòi được. Sau khi lấy lại được nhà, bà K. cùng con trai là ông Q. đã thực hiện nhiều giao dịch mua bán, cho thuê với căn nhà nhưng không thực hiện hợp đồng hứa thưởng với ông Đặng Đình T. Ông T. đã nhiều lần yêu cầu nhưng phía bà K., ông Q. không thực hiện việc hứa thưởng như đã cam kết. Do đó, ông T. khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà K., ông Q. thực hiện cam kết hứa thưởng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều nhận định Hợp đồng hứa thưởng ký kết ngày 28/11/2008 giữa ông T. với bà K., ông Q. là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, có chứng nhận của Công chứng viên thuộc Văn phòng Công chứng công tại hạt O, bang C, Hoa Kỳ. Do vậy, yêu cầu của ông T. đòi bà K., ông Q. trả thưởng bằng 35% giá trị nhà đất ông T. đòi được là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại Quyết định giám đốc thẩm số 35/2017/DS-GĐT ngày 07/9/2017 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy Bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại. Bình luật Về tố tụng Vụ án này phát sinh một số vấn đề tố tụng cần làm rõ và rút kinh nghiệm, cụ thể như sau Thứ nhất, tài liệu được lập ở nước ngoài, do cơ quan nước ngoài chứng nhận phải được hợp pháp hóa lãnh sự mới có giá trị sử dụng làm chứng cứ Cụ thể, theo Tòa án nhân dân tối cao các phụ lục hợp đồng ngày 22/01/2008, bản cam kết ngày 02/7/2008 và thỏa thuận hứa thưởng ngày 28/11/2008 có nội dung tăng thêm phần hứa thưởng cho ông T. đều được ký tại bang C, Hoa Kỳ và được công chứng viên thuộc phòng công chứng bang C, Hoa Kỳ chứng nhận cùng ngày là chưa đủ cơ sở pháp lý để được coi là chứng cứ vì không được hợp pháp hóa lãnh sự của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tại Hoa Kỳ, vi phạm khoản 1 Điều 418 Bộ luật Tố tụng dân sự BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 nay là điểm b khoản 2 Điều 478 BLTTDS năm 2015. Về vấn đề này, trước đây khoản 1 Điều 418 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định “Điều 418. Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận 1. Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Toà án Việt Nam công nhận nếu giấy tờ, tài liệu đó đã được hợp pháp hoá lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác”. Như vậy, theo Tòa án nhân dân tối cao Hợp đồng hứa thưởng ký kết ngày 28/11/2008 giữa ông T. với bà K., ông Q. là tài liệu được lập ở nước ngoài và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận công chứng viên bang C, Hoa Kỳ. Do đó, để sử dụng làm chứng cứ tại Tòa án Việt Nam phải được hợp pháp hóa lãnh sự [1]. Về vấn đề này, có quan điểm cho rằng Quyết định giám đốc thẩm nhận định văn bản cam kết trả thù lao được lập tại Hoa Kỳ trước cơ quan Công chứng nhưng không được hợp pháp hóa lãnh sự nên không có giá trị pháp lý là chưa chính xác. Bởi lẽ, khi bà K., ông Q. lập cam kết với ông T. tại Hoa Kỳ, đó là cam kết giữa cá nhân với cá nhân được cơ quan công chứng của Hoa Kỳ xác nhận nên có hiệu lực thực hiện đối với các cá nhân có liên quan [2]. Quan điểm này có sự nhầm lẫn giữa giá trị pháp lý của Hợp đồng hứa thưởng và việc Hợp đồng hứa thưởng có được sử dụng làm chứng cứ hay không. Cần phân biệt rằng, Hợp đồng hứa thưởng ngày 28/11/2008 giữa bà K., ông Q. với ông T. nếu được ký kết đúng quy định pháp luật, được công chứng viên của Hoa Kỳ chứng nhận là đã có hiệu lực pháp lý, ràng buộc trách nhiệm giữa các bên. Tuy nhiên, để được sử dụng làm chứng cứ trước Tòa án Việt Nam, thì theo quy định của BLTTDS phải được hợp pháp hóa lãnh sự. Nếu chưa hợp pháp hóa lãnh sự thì chưa có giá trị làm chứng cứ trước Tòa án Việt Nam. Tòa án nhân dân tối cao cũng nhận định, do chưa được hợp pháp hóa lãnh sự nên chưa đủ cơ sở pháp lý để được coi là chứng cứ chứ không xác định do chưa được hợp pháp hóa lãnh sự do đó không có giá trị pháp lý đối với các bên. Về vấn đề này, hiện nay điểm b, khoản 2 Điều 478 BLTTDS năm 2015 quy định rõ “Điều 478. Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi cho Tòa án Việt Nam ........ 2. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập trong các trường hợp sau đây a Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam; b Giấy tờ, tài liệu được lập ở nước ngoài được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và đã được hợp pháp hóa lãnh sự”. Như vậy, theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 478 BLTTDS năm 2015 thì đối với các tài liệu do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập ở nước ngoài, được công chứng, chứng thực theo quy định của nước ngoài và đã được hợp pháp hóa lãnh sự thì Tòa án công nhận đó là chứng cứ. Khi giải quyết lại vụ án nêu trên, BLTTDS năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hợp đồng hứa thưởng ký kết ngày 28/11/2008 giữa ông T. với bà K., ông Q. phải được hợp pháp hóa lãnh sự mới được Tòa án công nhận làm chứng cứ. Thứ hai, đương sự không thừa nhận có ký vào các hợp đồng, Tòa án cần giám định chữ ký để có căn cứ giải quyết vụ án Trong vụ án này, bà K. chỉ thừa nhận có ký với ông Đặng Đình T. hợp đồng hứa thưởng ngày 03/01/2007 với mức hứa thưởng là 15% giá trị nhà đất đòi được, còn các thỏa thuận sau về tăng mức hứa thưởng do ông T. xuất trình trong đó có Hợp đồng hứa thưởng ngày 28/11/2008 đều được lập tại Hoa Kỳ bà K. không ký. Theo nhận định của Tòa án nhân dân tối cao thì “Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa xem xét, xác định có đúng bà K., ông Q. ký các thỏa thuận nêu trên hay không”. Tại Thông báo rút kinh nghiệm số 229/TB-VKSTC ngày 31/5/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có nêu “Bị đơn bà K. chỉ thừa nhận ký Hợp đồng hứa thưởng ngày 03/01/2007, các văn bản sau đó do ông T. xuất trình Phụ lục hợp đồng ngày 22/01/2008, Bản cam kết ngày 02/7/2008 và Thỏa thuận hứa thưởng ngày 28/11/2008 có nội dung tăng thêm phần thưởng cho ông T. lần lượt là 25%, 30% và 35% đều được ký tại bang C, Hoa Kỳ… Bà K. và ông Q. không thừa nhận việc ký các thỏa thuận này. Lẽ ra, Tòa án cần xem xét, làm rõ có việc bà K., ông Q. ký các giấy tờ nêu trên hay không, trong trường hợp cần thiết thì phải giám định chữ ký của bà K., ông Q. để làm căn cứ giải quyết vụ án”. Như vậy, theo Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trường hợp này cần phải làm rõ chữ ký trong các văn bản hứa thưởng có phải do bà K., ông Q. ký hay không vì họ không thừa nhận là chữ ký của họ, trường hợp cần thiết phải giám định chữ ký để có cơ sở giải quyết. Về vấn đề này cần lưu ý rằng, do bà K., ông Q. không thừa nhận chữ ký trong các văn bản hứa thưởng đặc biệt là Hợp đồng hứa thưởng cuối cùng ngày 28/11/2008 là của họ. Như vậy, bà K., ông Q. cho rằng, Hợp đồng hứa thưởng ngày 28/11/2008 mà ông T. xuất trình là giả vì không phải họ ký. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 103 BLTTDS năm 2015 thì bà K., ông Q. cho rằng đây là chứng cứ giả thì có quyền yêu cầu Tòa án giám định chữ ký. Nếu đương sự không có yêu cầu thì Tòa án có thể tự mình ra Quyết định giám định chữ ký trong trường hợp này từ đó có cơ sở giải quyết vụ án một cách triệt để. Thứ ba, cần giải quyết các quan hệ tranh chấp có liên quan mật thiết với nhau trong cùng một vụ án Theo nhận định của Tòa án nhân dân tối cao, trong vụ án này, có nhiều quan hệ tranh chấp hứa thưởng, yêu cầu công nhận giấy ủy quyền, trả tiền đặt cọc, hủy bỏ văn bản khai nhận di sản thừa kế, trả tiền thuê nhà…, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chỉ giải quyết phần hứa thưởng và hủy các quan hệ pháp luật khác và tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với nhà đất nêu trên để bảo đảm thi hành nghĩa vụ trả thưởng của bà K., ông Q. cho ông T. là không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác. Đồng thời với việc ông T. khởi kiện yêu cầu bà K., ông Q. thực hiện nghĩa vụ trả thưởng. Vụ án này còn nhiều quan hệ tranh chấp khác như yêu cầu công nhận giấy ủy quyền, trả tiền đặt cọc, hủy bỏ văn bản khai nhận di sản thừa kế, trả tiền thuê nhà… Trong đó, nếu chấp nhận yêu cầu về công nhận giấy ủy quyền thì ông T. phải trả cho ông Q. một số tiền cụ thể…. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm đã giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm về hứa thưởng nhưng hủy các quan hệ pháp luật khác và tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với căn nhà 446-448 Nguyễn Thị Minh Khai để bảo đảm thi hành án nhưng lại hủy các quan hệ pháp luật tranh chấp khác để giải quyết lại. Điều này có khả năng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án. Lẽ ra, trong vụ án này, Tòa án phải giải quyết đồng thời các quan hệ tranh chấp trong cùng một vụ án và đối trừ nghĩa vụ giữa các đương sự thì mới bảo đảm quyền lợi của họ theo quy định tại Điều 38 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 nay là Điều 42 BLTTDS năm 2015. Đây là vấn đề tố tụng cần lưu ý khi giải quyết các vụ án có nhiều quan hệ tranh chấp nhưng liên quan mật thiết với nhau hoặc có thể đối trừ nghĩa vụ với nhau giữa các đương sự. Về nội dung Thứ nhất, quan hệ hứa thưởng giữa ông Đặng Đình T. với bà Vương Thị K., ông Nguyễn Đắc Q. trong vụ án này là quan hệ hợp đồng, không phải hứa thưởng như BLDS đã ghi nhận. Cần khẳng định rằng, các bản thỏa thuận hứa thưởng mà ông T. đã ký với bà K., ông Q. là một hợp đồng. Theo đó, các bên thỏa thuận rõ quyền và nghĩa vụ của nhau. ông T. sẽ đại diện bà K., ông Q. để tiến hành các thủ tục cần thiết nhằm đòi lại căn nhà 446-448 Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Hồ Chí Minh. Nếu ông T. đòi được, bà K., ông Q. phải trả cho ông T. thù lao tương ứng với 35% giá trị nhà đất đòi được. Có thể thấy, đây là quan hệ hợp đồng dịch vụ chứ không phải là chế định hứa thưởng theo quy định của BLDS. Bởi lẽ Một là, hứa thưởng là một dạng hành vi pháp lý đơn phương. BLDS năm 2005 cũng như BLDS năm 2015 đều xác định tính đơn phương của việc hứa thưởng thông qua các nội dung như người hứa thưởng tự đưa ra điều kiện thưởng, tự công khai công việc hứa thưởng, được rút lại tuyên bố hứa thưởng khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc… Nếu là quan hệ hợp đồng dịch vụ thì phải có sự thỏa thuận giữa các bên về điều kiện công việc, thù lao dịch vụ,... Trong vụ án này, giữa ông T. và bà K., ông Q. thỏa thuận cụ thể về nội dung công việc ông T. phải làm, thù lao sau khi đạt được công việc mức thù lao tăng qua các lần ký kết hợp đồng… do đó, cần nhận thức và xác định rõ đây là quan hệ hợp đồng dịch vụ giữa ông T. với bà K., ông Q. Hai là, BLDS năm 2015 đã tách “hứa thưởng và thi có giải” thành một chương riêng, không còn là một mục nằm trong chương “các hợp đồng thông dụng” như BLDS năm 2005. Điều này cho thấy nhà làm luật đã xác định rõ bản chất khác nhau giữa quan hệ hứa thưởng và quan hệ hợp đồng. Như vậy, trong vụ án này và rộng hơn, khi giải quyết các tranh chấp có liên quan đến việc hứa thưởng. Cần xem xét thỏa thuận hứa thưởng của các bên để xác định các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Đối với vụ án này, không thể áp dụng các quy định về hứa thưởng tại mục 13 từ Điều 590 đến Điều 592 BLDS năm 2005, nay là Điều 570 đến Điều 572 BLDS năm 2015 để giải quyết mà phải áp dụng các quy định về hợp đồng để giải quyết. Thứ hai, về tính hợp pháp của thỏa thuận hứa thưởng Như trên chúng tôi đã phân tích, nếu chúng ta xác định quan hệ trong vụ án này là quan hệ hứa thưởng thì chỉ cần áp dụng các quy định về hứa thưởng để giải quyết. Còn nếu xác định là quan hệ hợp đồng hợp đồng hứa thưởng hay hợp đồng dịch vụ thì trước hết phải xem xét đến hiệu lực của hợp đồng thông qua các quy định trong phần chung BLDS về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Trong vụ án này, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều cho rằng, nhà và đất tại 446-448 Nguyễn Thị Minh Khai có nguồn gốc của vợ chồng bà Vương Thị K. và ông Nguyễn Đắc K., ông K. chết năm 2004 không để lại di chúc. Ông K. và bà K. có 9 con chung nhưng tại các thỏa thuận hứa thưởng chỉ có bà K. và một người con là ông Q. ký mà không có chữ ký hay ý kiến của 8 người con còn lại, đã làm thiệt hại đến quyền lợi của họ. Lẽ, ra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm phải hỏi ý kiến của 8 người con còn lại về việc trả thưởng cho ông T. như thế nào để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét các nội dung trên mà chỉ căn cứ vào “Thỏa thuận hứa thưởng” ngày 28/11/2008 được lập tại bang C, Hoa Kỳ để buộc bà K., ông Q. trả cho ông T. 35% giá trị nhà, đất tương đương đồng là chưa đủ căn cứ. Như vậy, theo Tòa án nhân dân tối cao, do đây là quan hệ hợp đồng, nên cần xem xét đến ý chí của 8 người con còn lại của ông K. và bà K. Nếu không được sự đồng ý của họ thì khả năng hợp đồng không được chấp nhận hiệu lực. Quan điểm này cần cân nhắc bởi các lý do sau Việc bà K., ông Q. ký cam kết hứa thưởng với ông Đặng Đình T. để ông T. tiến hành các thủ tục đòi lại nhà 446-448 Nguyễn Thị Minh Khai không những không làm thiệt hại đến quyền lợi của 8 người con còn lại của bà K. mà còn làm lợi cho họ. Bởi lẽ, chính từ cam kết hứa thưởng này, ông T. đã tiến hành các thủ tục cần thiết để đòi lại nhà cho gia đình bà K. và thực tế đã đòi được. Việc đòi được nhà không những mang lại quyền lợi cho bà K., ông Q. mà còn là quyền lợi của 8 người con còn lại. Tại thời điểm ký cam kết hứa thưởng này, nhà đất chưa được Nhà nước công nhận thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của gia đình bà K., sau khi ký cam kết hứa thưởng, ông T. thực hiện công việc và đã đòi được nhà đất cho gia đình bà K. Việc hứa thưởng là thỏa thuận tự nguyện giữa bà K., ông Q. với ông T.. Tòa án buộc bà K., ông Q. trả thưởng cho ông T. căn cứ vào hợp đồng mà các bên đã ký kết chứ không buộc 8 người con còn lại trả thưởng cho ông T. Việc các bên thỏa thuận mức hứa thưởng là 35% giá trị nhà và đất không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của 8 người con còn lại những người không tham gia hứa thưởng. Bởi lẽ, các bên chỉ dùng 35% giá trị nhà đất làm mức hứa thưởng, là cơ sở để xác định mức hứa thưởng. Điều này khác với việc bà K., ông Q. chuyển nhượng hay định đoạt 35% nhà đất cho ông T. Thực tế, Tòa án đã xác định 35% giá trị nhà và đất tương ứng với đồng và buộc bà K., ông Q. phải trả cho ông T. số tiền đó chứ không phải buộc bà K., ông Q. phải làm thủ tục chuyển nhượng cho ông T. 35% nhà và đất. Như vậy, 35% giá trị nhà và đất chỉ là căn cứ để các bên tham gia hợp đồng xác lập mức hứa thưởng, đây là hợp đồng giữa bà K., ông Q. với ông T., 8 người con còn lại không tham gia xác lập hợp đồng, do đó, không cần phải hỏi ý kiến họ. Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cần khắc phục những vi phạm về mặt tố tụng và giải quyết triệt để các quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án này. Theo đó, cần chấp nhận đối với yêu cầu của ông Đặng Đình T. buộc bà Vương Thị K. và ông Nguyễn Đắc Q. trả thưởng mà không cần xem xét ý kiến của 8 người con còn lại của ông K., bà K. Tuy nhiên, do nhà và đất tại số 446-448 Nguyễn Thị Minh Khai nêu trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng của các đồng thừa kế gồm bà K. và 9 người con còn lại. Do đó, cần đưa họ vào tham gia tố tụng và nếu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. thì quá trình thi hành án cần xác định quyền sở hữu, sử dụng của bà K., ông Q. trong khối tài sản chung với 8 đồng thừa kế còn lại để thi hành án nhằm bảo đảm quyền lợi của họ. =================== [1] Hiện nay, Việt Nam và Hoa Kỳ chưa ký Điều ước về miễn hợp pháp hóa lãnh sự/chứng nhận lãnh sự. [2] truy cập lần cuối ngày 06/6/2021. Thạc sĩ NGUYỄN THỊ VÂN ANH Trường Đại học Luật, Đại học Huế Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Xem trước Đánh giá 0 Hợp đồng hứa thưởng là văn bản ghi lại sự THỎA THUẬN của các bên về việc bên hứa thưởng sẽ trả thưởng/tặng cho bên thực hiện được công việc một tài sản hoặc lợi ích nhất định nào đó khi bên nhận thưởng HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC đã đưa ra. Hợp đồng hứa thưởng sinh ra nhằm mục đích khuyến khích các bên thỏa thuận về việc hoàn thành công việc được giao, được thực hiện khi công việc hoặc đạt kết quả kinh doanh và mang lại lợi ích kinh tế cao. Hợp đồng này thường đi kèm với hợp đồng mua bán hay biên bản hợp tác. Hợp đồng hứa thưởng Hợp đồng mẫu giới thiệu quý khách hàng mẫu hợp đồng hứa thưởng do CNC biên soạn, hiệu chỉnh. Mẫu hợp đồng hứa thưởng gồm các điều Điều 1. Lý do hứa thưởng Điều 2. Điều kiện trả thưởng và hình thức trả thưởng Điều 3. Cam kết của hai bên Điều 4. Ký kết Bạn có thể tải hợp đồng miễn phí tại đây. Thông tin liên hệ CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM Địa chỉ 28 Đại lộ Mai Chí Thọ, Phường An Phú, Tp. Thủ Đức, Hồ Chí Minh, Việt Nam Điện thoại 84 28-6276 9900 Đường dây nóng 84 916-545-618 Email hotro Phụ trách Luật sư Nguyễn Thị Kim Ngân Luật sư Thành viên Điện thoại 84 919 639 093 E-mail Hoặc Trợ lý Luật sư Ngô Thị Phương Uyên Cộng sự Điện thoại 84 935 874 284 Email Trang mạng Hứa thưởng nhằm mục đích thúc đẩy công việc được thược hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn. Vậy, hứa thưởng là gì và mẫu hợp đồng hứa thưởng mới nhất được quy định như thế nào? Hãy cùng Luật sư Thuận An theo dõi qua bài viết sau. 1. Hứa thưởng là gì? – Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng. – Công việc được hứa thưởng phải cụ thể, có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. 2. Rút lại tuyên bố hứa thưởng Khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc thì người hứa thưởng có quyền rút lại tuyên bố hứa thưởng của mình. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và trên phương tiện mà việc hứa thưởng đã được công bố. 3. Trả thưởng – Trường hợp một công việc được hứa thưởng do một người thực hiện thì khi công việc hoàn thành, người thực hiện công việc đó được nhận thưởng. – Khi một công việc được hứa thưởng do nhiều người cùng thực hiện nhưng mỗi người thực hiện độc lập với nhau thì người hoàn thành đầu tiên được nhận thưởng. – Trường hợp nhiều người cùng hoàn thành công việc được hứa thưởng vào cùng một thời điểm thì phần thưởng được chia đều cho những người đó. – Trường hợp nhiều người cùng cộng tác để thực hiện công việc được hứa thưởng do người hứa thưởng yêu cầu thì mỗi người được nhận một phần của phần thưởng tương ứng với phần đóng góp của mình. 4. Mẫu hợp đồng hứa thưởng mới nhất CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc ———–o0o————- HỢP ĐỒNG HỨA THƯỞNG Hôm nay, ngày …./…./……..tại ……………………………………………………………….., Chúng tôi gồm có BÊN TRẢ THƯỞNG Ông/ bà…………………………………………..….Năm sinh………………………………… CMND/CCCD……………………………………… Cấp ngày………………………………… Nơi cấp……………………………………………………………………………………………. Địa chỉ …………………………………………………………………………………..………… Điện thoại………………………………………………………………………………………….. Sau đây gọi tắt là bên A BÊN NHẬN THƯỞNG Ông/ bà…………………………………………..….Năm sinh………………………………… CMND/CCCD……………………………………… Cấp ngày………………………………… Nơi cấp……………………………………………………………………………………………. Địa chỉ …………………………………………………………………………………..………… Điện thoại………………………………………………………………………………………….. Sau đây gọi tắt là bên B Sau khi đã bàn bạc một cách kỹ lưỡng hai bên đều nhất trí đi đến thống nhất với các điều khoản trong Hợp đồng hứa thưởng sau Điều 1 Lý do hứa thưởng Bên B sẽ đại diện cho Bên A……………………………………………………………………… Điều 2 Điều kiện trả thưởng và hình thức trả thưởng Điều kiện trả thưởng – Sau khi hoàn thành công việc được giao Hoặc Sau khi có Bản án, Quyết định của Tòa án hoặc Văn bản thỏa thuận đảm bảo được quyền và lợi và ích hợp pháp cho Bên A về nội dung tranh chấp mà hai bên đã thỏa thuận. Hình thức trả thưởng – Bằng tiền mặt VNĐ hoặc chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng của Bên B – Số tiền trả thưởng là ……………………………………………………………………….. – Trả thưởng bằng tiền mặt Việt Nam đồng – Bên A sẽ trả thưởng cho Bên B sau khi thỏa mãn như điều kiện trên Điều Điều 3 Cam kết của hai bên Cam kết của bên A – Thực hiện đúng và đầy đủ nội dung trong hợp đồng. – Trả thưởng cho Bên B đúng và đủ số tiền ở điều 2 – Việc trả thưởng là do Bên A tự nguyện. Cam kết của bên B Thực hiện đúng và đầy đủ nội dung trong hợp đồng. Điều 4 Ký kết Hai bên đã đọc lại nguyên văn bản Hợp đồng hứa thưởng này, cùng nhất trí ký vào để làm bằng chứng, hợp đồng được lập thành … bản chính, mỗi bản gồm … trang, mỗi bên giữ … bản đều và đều có giá trị pháp lý như nhau. ĐẠI DIỆN BÊN TRẢ THƯỞNG ĐẠI DIÊN BÊN ĐƯỢC TRẢ THƯỞNG Nếu quý khách hàng muốn biết thêm thông tin cũng như soạn hợp đồng hứa thưởng hãy liên hệ với chúng tôi. Đội ngũ Luật sư giỏi sẽ hỗ trợ và tư vấn tận tình

hợp đồng hứa thưởng